Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án – ĐH Tây Nguyên

Với mong muốn giúp các bạn sinh viên đạt kết quả cao trong kì thi hết học phần, Học Điện Tử Cơ Bản.Net đã sưu tầm và tuyển lựa gửi tới các bạn Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án. Hy vọng với tài liệu này sẽ cung ứng những tri thức có lợi cho các bạn trong công đoạn ôn tập tăng lên tri thức trước lúc bước vào kì thi của mình.

CÂU HỎI ÔN THI MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÓ ĐÁP ÁN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

 

Câu 1. Phân tích định nghĩa và thể hiện hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) cho đến nay, Đảng ta xoành xoạch khẳng định vai trò, ý nghĩa, công dụng của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, cách thức, cá tính… Hồ Chí Minh đối với cách mệnh Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 – 1991), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 – 2001) 1 lần nữa khẳng định lại điều này. Đây là 1 sự tổng kết thâm thúy, bước tăng trưởng mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta và là 1 quyết định quan trọng có ý nghĩa lịch sử, phục vụ đề nghị tăng trưởng của sự nghiệp cách mệnh nước ta, tình cảm ước muốn của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta.

Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của Cách mệnh Việt Nam, là kết quả của sự áp dụng và tăng trưởng thông minh chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta, kế thừa và tăng trưởng các trị giá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp nhận tinh hoa văn hóa loài người.

…Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc chiến đấu của quần chúng ta giành chiến thắng, là của nả ý thức béo béo của Đảng và dân tộc ta”. Khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh như trên trình bày 4 nội dung chủ quản sau:

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam, từ cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân tới cách mệnh xã hội chủ nghĩa.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự áp dụng thông minh và tăng trưởng chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự liên kết tinh hoa dân tộc và trí óc thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
  • Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ chiến thắng của cách mệnh Việt Nam trong suốt hơn 70 5 qua và tiếp diễn soi sáng tuyến đường chúng ta tiến lên xây dựng 1 nước Việt Nam hòa bình, hợp nhất, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

 

Phân tích hệ thống tư tưởng HCM ( Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng )

Hệ thống tư tưởng HCM bao gồm nhiều lĩnh vực, trong ấy có những tư tưởng chủ quản :

  • Tư tưởng về dân tộc và CM giải phóng dân tộc
  • Tư tưởng về CNXH và tuyến đường quá độ đi lên CNXH
  • Tư tưởng về Đảng CSVN
  • Tư tưởng về đại kết đoàn dân tộc
  • Tư tưởng về quân sự
  • Tư tưởng về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
  • Tư tưởng về liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
  • Tư tưởng đạo đức HCM
  • Tư tưởng nhân bản HCM
  • Tư tưởng văn hóa HCM

 

Câu 2. Phân tích ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên

1. Khái niệm:

  • Tư tưởng Hồ Chí Minh là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam, từ cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân tới cách mệnh xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự áp dụng thông minh và tăng trưởng chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta; cùng lúc là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí óc thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa cực kỳ béo béo: trang bị hệ thống ý kiến và cách thức cách mệnh Hồ Chí Minh, tăng lên thêm lòng yêu nước, ý thức dùng cho quần chúng, đạo đức cách mệnh cả mỗi người, để khiến cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thực thụ biến thành nền móng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta.

2. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh:

2.1. Việc học tập, mày mò tư tưởng Hồ Chí Minh giúp người học tiếp cận, thông suốt hơn về con người lớn lao Hồ Chí Minh.

  • Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 2/9/1969) là 1 nhà cách mệnh, 1 trong những người đặt nền tảng và chỉ đạo công cuộc chiến đấu giành độc lập, kiêm toàn cương vực cho Việt Nam. Người là nhà chỉ đạo lừng danh được nhiều người hâm mộ và tôn sùng, 1 vị nguyên thủ tài 3 nhưng mà gần cận, được hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu quý. Hồ Chí Minh cùng lúc cũng là 1 nhà văn hóa béo với nhiều tác phẩm văn chương nghệ thuật trị giá để lại cho đời. Có thể nói, có rất nhiều nhân tố để hình thành 1 con người lớn lao với những thành tích xuất chúng và dành được trái tim, tình cảm của nhiều đồng bào trong nước nói riêng và quần chúng toàn cầu khái quát. Song 1 nhân tố quan trọng cốt lõi và căn bản ấy chính là nội lực tự thân bên trong Hồ Chí Minh – là toàn thể tư tưởng, ý kiến, nhận thức cũng như nhân phẩm đạo đức của Người. Vì thế, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và thông suốt hơn những nhân phẩm, quan niệm thâm thúy của Người, cũng là qua ấy tìm ra cho mình 1 tấm gương sáng để noi theo và những bài học có lợi để áp dụng trong cuộc sống. Đối với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – cá tính – lối sống là luôn hợp nhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người ko chỉ cho ta cái nhìn giản đơn về những quan niệm của Người trong các lĩnh vực, nhưng mà mặt khác còn cho ta cảm thu được nhân phẩm, đạo đức cao đẹp của Người. Hồ Chí Minh là con người “bằng xương bằng thịt” nhưng mà Người làm được những việc phi thường, béo béo chẳng phải bất kỳ 1 người nào cũng làm được. Hồ Chí Minh cùng thành tích của Người chính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những người nào am tường thâm thúy về những tư tưởng của Người có thể học tập, tuân theo. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là 1 trong những tuyến đường để nhận thức đầy đủ và thâm thúy hơn về công huân béo béo của Người đối với quần chúng, non sông Việt Nam và quần chúng của các nước thực dân địa trên toàn cầu. Thấm thía công huân của Người cũng sẽ khêu gợi trong mỗi 1 người dân Việt Nam lòng hàm ân, lòng kiêu hãnh dân tộc, trình bày được nét đẹp truyền thống của dân tộc – đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

 2.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp mỗi người tăng lên năng lực tư duy lý luận và cách thức công việc trong thời đại hiện nay.

  • Những tư tưởng của Hồ Chí Minh dù rằng có tính nói chung cao về các lĩnh vực có nội hàm bao la như dân tộc và cách mệnh dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản, Nhà nước, tư tưởng đại kết đoàn, quân sự, nhân bản, đạo đức, văn hóa… nhưng mà lại có tính thực tế và vận dụng rất cao, có thể được áp dụng hiệu quả trong từng công tác bé lẻ của mỗi người dân. Thấm nhuần được các tư tưởng chủ công, ta sẽ có nền móng kiên cố về mục tiêu lao động, tiêu chí đúng mực để tăng trưởng non sông đi lên xã hội chủ nghĩa và có bản sắc riêng. Từ ấy ta sẽ tìm ra đường hướng chi tiết để tăng trưởng năng lực của bản thân, xây dựng non sông. Trên nền móng kiên trì lập trường, vững vàng ý kiến đó, việc nắm rõ được thực chất của các tư tưởng Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho mỗi người tăng lên được bản lĩnh tư duy lý luận sắc bén và cải tiến cách thức lao động hiệu quả và khoa học hơn. Thay đổi được tư duy nhận thức đúng mực cũng chính là loại trừ, bài trừ những nghĩ suy sai lệch, thụ động, phiến diện, phản động, hướng con người tới những tư tưởng đúng mực, thích hợp với quy luật tăng trưởng. Nếu đổi mới tư duy có vai trò dẫn dắt khởi nguồn cho sự tân tiến thì cải tiển cách thức cũng quan trọng ko kém trong việc hiện thực hóa những dự kiến, ý kiến đổi mới ấy.

2.3. Giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm cách mệnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

  • Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu 1 tấm kiểu mẫu mực về thực hành đạo đức cách mệnh để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có đến gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là 1 trong những vấn đề ân cần bậc nhất của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mệnh. 
  • Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền móng và là sức mạnh của người cách mệnh, coi ấy là cái gốc của cây, đầu đuôi của sông nước: Người cách mệnh phải có đạo đức cách mệnh làm nền móng thì mới xong xuôi được nhiệm vụ cách mệnh vang dội vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người quan niệm đạo đức tạo ra công mạnh, yếu tố quyết định sự chiến thắng của mọi công tác Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tạo sự chuyển biến mạnh bạo về tinh thần tu dưỡng, đoàn luyện và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc trưng trong cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên, đoàn tụ, thanh niên, học trò… tăng lên đạo đức cách mệnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công không lo nghĩ. Trong điều kiện thực tế hiện tại, mặt trái của chế độ thị phần ảnh hưởng mạnh bạo, hình thành sự phân hóa giàu nghèo, phần tầng xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lối sống ở 1 bộ phận cán bộ, Đảng viên đã gây ra tác động ko bé tới niềm tin, tư tưởng và tình cảm của nhân dân quần chúng vào Đảng. Vì thế, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, noi gương đạo đức của Người trở thành thiết yếu, thúc bách và quan trọng hơn bao giờ hết giúp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.

2.4. Tăng lên ý thức độc lập, tự chủ, đổi mới, thông minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của độc lập, tự chủ, đổi mới và thông minh.

  •  Luôn luôn xuất hành từ thực tiễn, cực kỳ tránh lặp lại những lối cũ, đường mòn, ko dừng đổi mới và thông minh. Trong xu hướng khu vực hóa và thế giới hóa, các thần thế phản động cừu địch ko từ bỏ mưu mô nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội đối với nước ta phê chuẩn chế độ thị phần và luận bàn, giao lưu văn hóa. Trong điều kiện ấy, chúng ta có thể làm gì để vừa mở cửa, cộng tác tăng trưởng kinh tế nhưng mà vẫn giữ được độc lập, chủ quyền dân tộc. Muốn vậy chúng ta phải tạo ra nguồn sức mạnh nội lực làm cơ sở cho sự tăng trưởng. 1 trong những sức mạnh nội lực ấy chính là tư tưởng Hồ Chí Minh. Người có dặn dò: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái ý thức cách mệnh và khoa học, cái ý thức biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, để khắc phục tốt những vấn đề đang đặt ra trong thực tế đổi mới hiện tại, nghĩa là phải luôn biết gắn lý luận với thực tế, từ tổng kết thực tế nhưng mà bổ sung làm phong phú thêm lý luận. Do vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là việc học tập có ý nghĩa về mặt định hướng trị giá, hình thành sức mạnh cùng lúc là kim chỉ nam, là nền móng tư tưởng cho mọi hành động của cả dân tộc.
  • Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với lứa tuổi thanh niên Việt Nam khái quát và sinh viên ngành Triết học-Chính trị  nói riêng: Trong huấn thị gửi Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người viết: “Thanh niên hiện giờ là 1 lứa tuổi vang dội, thành ra, do vậy phải tự giác, tình nguyện nhưng mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Nghĩa là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài nhưng mà ko có đức giả dụ 1 anh làm kinh tế vốn đầu tư rất giỏi nhưng mà lại đi tới biển thủ thì không những ko làm được gì lợi ích cho xã hội nhưng mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức nhưng mà ko có tài giả dụ ông bụt ko làm hại gì nhưng mà cũng ko lợi gì cho nhân loại.” Điều này cho thấy Người luôn ân cần tới thanh niên – những người chủ ngày mai của non sông. Là sinh viên Triết, ko chỉ là những người chủ ngày mai của non sông, nhưng mà còn là lực lượng cốt cán xây dựng nên hệ thống pháp chế giang san, xương sống của tổ quốc, chúng ta cần phải luôn ân cần tăng trưởng và tăng lên chất lượng của mỗi sinh viên ngay từ trong ghế nhà trường.

KẾT LUẬN:

Với những ý nghĩa cực kỳ béo béo như trên, tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/ 1991), Đảng đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Và từ ấy đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là ngọn đèn soi sáng cho tuyến đường của chúng ta, là vũ khí lý luận có trị giá khoa học thâm thúy và có ý nghĩa thực tế béo béo; là tư tưởng lãnh đạo, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta, đặc trưng là lứa tuổi trẻ bữa nay và tương lai, nhất là trong công đoạn công nghiệp hoá, tiên tiến hoá non sông. –

Câu 3. Phân tích cơ sở tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cơ sở khách quan:

  1. Bối cảnh lịch sử tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh:

* Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

  • 1858: Thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam, sự xâm lăng của thực dân Pháp đã gây ra nhiều hậu quả cho xã hội Việt Nam
  • Triều đình nhà Nguyễn đã từng bước khuất phục đầu hàng Pháp.
  • 1884: Hòa ước Pa-to-not , triều đình nhà Nguyễn đã chính thức xác nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cương vực Việt Nam
  • Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp của quần chúng ta nổ ra, dâng cao, lan rộng trong cả nước và tuần tự bị thất bại.

Đầu thế kỉ XX:

  • Công cuộc khai thác thực dân địa của Pháp từ 1895 đã khiến cho xã hội Việt Nam có sự lay chuyển và phân hóa ( xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến, hiện ra nhiều giai cấp phân khúc xã hội mới: người lao động, tư sản, tiểu tư sản. Công cuộc khai thác thực dân địa là sự bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn hóa)
  •  Tác động của các “tân văn”, “tân thư” và tác động của các trào lưu canh tân ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

=> Khiến cho các phong trào yêu nước ở nước ta chuyển dần sang xu thế dân chủ tư sản.

Tất cả các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều ko tránh khỏi giảm thiểu, đều ko tránh khỏi sự đàn áp man rợ và thất bại, non sông lâm vào trạng thái khủng hoảng về đường lối cứu nước. Bối cảnh ấy đặt ra 1 đề nghị bức thiết về việc phải tìm ra tuyến đường cứu nước.

* Bối cảnh thời đại:

  • CNTB chuyển sang công đoạn chủ nghĩa đế quốc và xác lập sự cai trị của chúng trên khuôn khổ toàn cầu, biến thành địch thủ chung của quần chúng các dân tộc thực dân địa, làm cho các phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc diễn ra càng ngày càng mạnh bạo.
  • Ở các nước tư bản là tranh chấp giữa giai cấp người lao động và giai cấp tư sản. Ở các nước thực dân địa, ngoài tranh chấp vốn có là giai cấp dân cày và đại chủ còn hiện ra tranh chấp mới: giữa quần chúng các thực dân địa và chủ nghĩa đế quốc. Xã hội phân hóa: hiện ra giai cấp, phân khúc xã hội mới: người lao động, tư sản.
  • Các trào lưu canh tân ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra mạnh bạo.
  • Cách mệnh Tháng Mười Nga nổ ra và chiến thắng có công dụng thức tỉnh các dân tộc châu Á.
  • Quốc tế cộng sản 3 có mặt trên thị trường ( tháng 3 – 1919) nói đến đến vấn đề thực dân địa, bênh vực các dân tộc thực dân địa, ủng hộ phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc, giúp sức huấn luyện cách mệnh, vạch ra tuyến đường giải phóng các dân tộc thực dân địa.

Bối cảnh trong nước đặt ra đề nghị bức thiết phải tìm ra tuyến đường cứu nước mới, bối cảnh thời đại đã tạo ra tuyến đường nhưng mà Việt Nam đang cần, dĩ nhiên nó chẳng phải hoàn toàn có sẵn.

b. Tiền đề tư tưởng, lý luận:

* Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam:

Các trị giá truyền thống điển hình:

  • Truyền thống yêu nước điển hình

  • Truyền thống yêu nước kiên trì quật cường chống giặc ngoại xâm
  • Truyền thống kết đoàn tương thân tương ái.
  • Tinh thần nhơn nghĩa
  • Ý chí vượt qua gieo neo thách thức, ham học hỏi, tiếp nhận tinh hoa văn hóa loài người.

=> Những truyền thống này đã tụ hội và giục giã Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.

Tác động của văn hóa Phương Tây:

  • Hồ Chí Minh đã tiếp nhận về tự do, đồng đẳng, nhân ái của tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của đại cách mệnh tư sản Pháp.
  • Hồ Chí Minh đã tiếp nhận tư tưởng dân chủ phê chuẩn tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp như: Vonte, Rutxo, Mongtetxkio..
  • Hồ Chí Minh tiếp cận tuyên ngôn độc lập 5 1776 của Mỹ về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
  • Khi ở các nước phương Tây, Hồ Chí Minh ko chỉ tiếp nhận tư tưởng dân chủ nhưng mà còn tạo nên cá tính dân chủ phê chuẩn việc trực tiếp tham dự các tổ chức chính trị xã hội, viết báo, bàn cãi, họp hội, lập hội.

=> Với nền móng văn hóa phương Đông lúc tiếp nhận những trị giá văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã bổ khuyết những trị giá tư tưởng nhưng mà ở phương Đông khái quát lúc ở trong nước chưa có hoặc chưa đầy đủ.

Chủ nghĩa Mac Lenin:

  • Là xuất xứ tư tưởng quan trọng nhất, là cơ sở của toàn cầu quan và cách thức luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhờ có toàn cầu quan và cách thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã hấp thu và chuyển hóa được những yếu tố hăng hái và tân tiến của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa loài người để hình thành hệ thống tư tưởng của mình. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, những phạm trù căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù căn bản của lý luận mác – Lênin.
  • Tháng 7/1920: lúc đọc sơ khảo lần thứ nhất “ Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thực dân địa” của Lenin, HCM đã tìm thấy tuyến đường giải phóng dân tộc.
  • HCM tới với chủ nghĩa M-L từ đặc trưng: từ chủ nghĩa yêu nước, từ nhà yêu nước, từ nhu cầu thực tế ( tìm tuyến đường cứu nước chứ chẳng phải là nhu cầu lý luận)
  • HCM đã tiếp nhận chủ nghĩa M-L ở toàn cầu quan và cách thức luận: ý thức cách mệnh và khoa học.

Nhân tố chủ quan:

  • Năng lực thiên tính của HCM: HCM có bản lĩnh tư duy trí óc, nhân phẩm đạo đức và năng lực hoạt động thực tế hơn người.
  • Khả năng tư duy trí óc, quan sát tinh tế, tư duy độc lập, tự chủ, thông minh, bản lĩnh phê phán tinh tường, minh mẫn.
  • Nhân cách, nhân phẩm đạo đức: tình cảm yêu nước thương dân, mến thương con người.
  • Nghị lực phi thường của Hồ Chí Minh.
  • Có hoạt động thực tế phong phú để nói chung tư tưởng thành lý luận.

=> Kết luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự liên kết giữa điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan, giữa truyền thống văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa loài người và 1 tư cách đặc trưng được tôi rèn trong thực tế nhộn nhịp của dân tộc và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh biến thành tư tưởng Việt Nam tiên tiến.

Câu 4. Trình bày công đoạn tạo nên và tăng trưởng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quá trình tạo nên và tăng trưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh ko tạo nên ngay 1 khi nhưng mà đã trải qua 1 công đoạn tìm tòi, xác lập, tăng trưởng và hoàn thiện, gắn liền với công đoạn hoạt động cách mệnh phong phú của người.
a. Giai đọan tạo nên tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mệnh (từ 1890-1911).

Trong thời trẻ, với những đặc điểm quê hương, gia đình và không gian sống, Hồ Chí Minh đã thu thập được những hiểu biết và nhân phẩm điển hình sau:

  • Truyền thống yêu nước và nhơn nghĩa của dân tộc.
  • Vốn văn hóa dân tộc và bước đầu xúc tiếp với văn hóa phương Tây.
  • Tạo nên hoài bão cứu dân, cứu nước lúc chứng kiến cuộc sống thống khổ, điêu đứng của quần chúng và ý thức chiến đấu quật cường của cha anh.

b. Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911-1920).

Đây là công đoạn bôn 3 tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã:

  • Mày mò các cuộc cách mệnh béo trên toàn cầu và thăm dò cuộc sống của quần chúng các dân tộc bị áp bức.
  • Tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về các vấn đề dân tộc và thực dân địa, Hồ Chí Minh đã tìm thấy tuyến đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.
  • Đứng hẳn về Quốc tế III, tham dự thành lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện ấy ghi lại bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước tới chủ nghĩa Lênin, từ tỉnh ngộ dân tộc tới tỉnh ngộ giai cấp, từ người tình nước thành người cộng sản.

Giai đoạn tạo nên căn bản tư tưởng về tuyến đường cách mệnh Việt Nam (1921 – 1930).
Hồ Chí Minh hoạt động hăng hái trong Ban nghiên cứu thực dân địa của Đảng cộng sản Pháp, tham dự sáng lập Hội liên hợp thực dân địa, xuất bản báo Le Paria nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thực dân địa.

  • Hồ Chí Minh sang Mátxcơva dự Hội nghị Quốc tế Dân cày và được bầu vào Đoàn chủ tịch của Hội giữa 5 1923. Sau ấy, Người tiếp diễn tham gia đại hội V Quốc tế Cộng sản và Đại hội các đoàn thể nhân dân khác: Quốc tế thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế công hội đỏ…Hồ Chí Minh về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức hội Việt Nam cách mệnh thanh niên, ra Báo thanh niên, mở các lớp tập huấn chính trị, huấn luyện cán bộ, đưa họ về nước hoạt động cuối 5 1924.
  • Tháng 02- 1930, Người chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo ra các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng.
  • Các văn kiện này, cộng với 2 tác phẩm Người xong xuôi và xuất bản trước ấy là Bản án chế độc thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927), đã ghi lại sự tạo nên căn bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyến đường cách mệnh của Việt Nam.

Giai đoạn vượt qua thách thức, kiên định tuyến đường đã xác định của cách mệnh Việt Nam (1930-1941).

  • Do ko nắm được tình hình thực tiễn các thực dân địa ở phương Đông và Việt Nam, lại bị chi phối bởi ý kiến “tả” khuynh, tại Đại hội VI (5 1928), Quốc tế Cộng sản đã chỉ trích và phê phán đường lối của Hồ Chí Minh vạch ra trong Hội nghị thống nhất thành lập Đảng. Hội nghị Trung ương tháng 10 – 1930 của Đảng ta, theo lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, cũng ra “Án nghị quyết” thu hồi chánh cương vắn tắt và sách lược vắn tắt, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kì ấy Hồ Chí Minh tiếp diễn tham dự các hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và lãnh đạo cách mệnh Việt Nam, kiên trì ý kiến của mình.
  • Đại hội VII Quốc tế cộng sản (5 1935) đã có sự tự phê bình về thiên hướng “tả”, cô độc, biệt phái, bỏ rơi mất ngọn cờ dân tộc và dân chủ trong phong trào cộng sản. Để cho các đảng tư sản, tiểu tư sản và phát xít nắm lấy nhưng mà chống phá cách mệnh. Đại hội có sự chuyển hướng về sách lược, chủ trương thành lập Chiến trận dân chủ chống phát xít.
  • 5 1936, Đảng ta đề ra “chiến sách” mới, phê phán những biểu thị “tả” khuynh, cô độc, biệt phái trước đây. Trên thực tiễn, từ đây đảng đã quay về với Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Hồ Chí Minh.
  • Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11 – 1939 khẳng định rõ: “đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy lợi quyền dân tộc làm vô thượng, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục tiêu đó nhưng mà khắc phục”.
    Những diễn biến của công đoạn này đã phản ảnh quy luật của cách mệnh Việt Nam, trị giá và nhựa sống của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Giai đoạn tăng trưởng và hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 – 1969).

  • Đầu 5 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp lãnh đạo Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 – 1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, tạm bợ gác khẩu hiệu cách mệnh điền địa, xóa bỏ vấn đề Liên bang Đông Dương, lập ra chiến trường Việt Minh, thực tiên tiến kết đoàn dân tộc trên cơ sở công nông liên minh. Nhờ đường lối đúng mực ấy, sau 4 5, Đảng chỉ đạo cách mệnh tháng 8 chiến thắng. Ấy cũng là chiến thắng trước nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Sau lúc giành được chính quyền, Đảng ta và quần chúng ta phải thực hiện 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chiến đấu giải phóng miền Nam.
  • Đây là giai đoạn tư tưởng Hồ chí Minh được bổ sung, tăng trưởng và hoàn thiện trên 1 loạt vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam: về đường lối chiến tranh quần chúng “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở 1 nước vốn là thực dân địa nửa phong kiến, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ko trải qua cơ chế tư bản chủ nghĩa, trong điều kiện non sông bị chia cắt và có chiến tranh; về xây dựng Đảng với nhân cách là Đảng cầm quyền; về xây dựng Nhà nước kiểu mới – của dân, do dân, vì dân; về củng cố và tăng nhanh sự kết đoàn đồng tình trong phong trào cộng sản và người lao động quốc tế…
  • Trước lúc từ trần (ngày 02-9-1969), Hồ Chí Minh để lại Di chúc thiêng liêng gửi gắm trong ấy những tinh hoa của tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của 1 vĩ nhân hiếm có, đã suốt đời cố gắng hy sinh vì Non sông và loài người. Di chúc đã tổng kết thâm thúy những bài học chiến đấu và chiến thắng của cách mệnh Việt Nam, cùng lúc cũng vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự tăng trưởng của non sông và dân tộc ta sau lúc kháng thắng lợi lợi.
  • Đảng ta và quần chúng ta càng ngày càng nhận thức đầy đủ và thâm thúy hơn di sản ý thức vô giá nhưng mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực thụ là nguồn trí óc, nguồn động lực soi sáng và xúc tiến công cuộc đổi mới tăng trưởng.
  • Những bất định chính trị béo béo trên toàn cầu diễn ra trong hơn mười 5 qua vừa kiểm chứng, vừa khẳng định tính khoa học, đúng mực, tính cách mệnh, thông minh, trị giá dân tộc và ý nghĩa quốc tế của tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

{– Xem đầy đủ nội dung tại Xem trực tuyến hoặc Tải về–}

Trên đây là trích dẫn 1 phần Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án – ĐH Tây Nguyên, để xem đầy đủ nội dung đề thi và đáp án cụ thể các em vui lòng đăng nhập website hoc247.net chọn Xem trực tuyến hoặc Tải về di động tính. Chúc các em học tốt và thực hành hiệu quả!

.


Thông tin thêm về Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án - ĐH Tây Nguyên

Với mong muốn giúp các bạn sinh viên đạt kết quả cao trong kì thi hết học phần, Học Điện Tử Cơ Bản.Net đã sưu tầm và tuyển lựa gửi tới các bạn Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án. Hy vọng với tài liệu này sẽ cung ứng những tri thức có lợi cho các bạn trong công đoạn ôn tập tăng lên tri thức trước lúc bước vào kì thi của mình.
CÂU HỎI ÔN THI MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH CÓ ĐÁP ÁN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN

 

Câu 1. Phân tích định nghĩa và thể hiện hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh.

Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (tháng 2-1951) cho đến nay, Đảng ta xoành xoạch khẳng định vai trò, ý nghĩa, công dụng của đường lối chính trị, tư tưởng, đạo đức, cách thức, cá tính… Hồ Chí Minh đối với cách mệnh Việt Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (tháng 6 – 1991), Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (tháng 4 – 2001) 1 lần nữa khẳng định lại điều này. Đây là 1 sự tổng kết thâm thúy, bước tăng trưởng mới trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta và là 1 quyết định quan trọng có ý nghĩa lịch sử, phục vụ đề nghị tăng trưởng của sự nghiệp cách mệnh nước ta, tình cảm ước muốn của toàn Đảng toàn quân, toàn dân ta.

Khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh” là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của Cách mệnh Việt Nam, là kết quả của sự áp dụng và tăng trưởng thông minh chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta, kế thừa và tăng trưởng các trị giá truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp nhận tinh hoa văn hóa loài người.

…Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc chiến đấu của quần chúng ta giành chiến thắng, là của nả ý thức béo béo của Đảng và dân tộc ta”. Khái niệm về tư tưởng Hồ Chí Minh như trên trình bày 4 nội dung chủ quản sau:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam, từ cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân tới cách mệnh xã hội chủ nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự áp dụng thông minh và tăng trưởng chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự liên kết tinh hoa dân tộc và trí óc thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ chiến thắng của cách mệnh Việt Nam trong suốt hơn 70 5 qua và tiếp diễn soi sáng tuyến đường chúng ta tiến lên xây dựng 1 nước Việt Nam hòa bình, hợp nhất, độc lập, dân chủ và xã hội chủ nghĩa, dưới sự chỉ đạo của Đảng cộng sản Việt Nam.

 

Phân tích hệ thống tư tưởng HCM ( Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng )

Hệ thống tư tưởng HCM bao gồm nhiều lĩnh vực, trong ấy có những tư tưởng chủ quản :

Tư tưởng về dân tộc và CM giải phóng dân tộc
Tư tưởng về CNXH và tuyến đường quá độ đi lên CNXH
Tư tưởng về Đảng CSVN
Tư tưởng về đại kết đoàn dân tộc
Tư tưởng về quân sự
Tư tưởng về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân
Tư tưởng về liên kết sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Tư tưởng đạo đức HCM
Tư tưởng nhân bản HCM
Tư tưởng văn hóa HCM

 

Câu 2. Phân tích ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sinh viên

1. Khái niệm:

Tư tưởng Hồ Chí Minh là 1 hệ thống ý kiến toàn diện và thâm thúy về những vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam, từ cách mệnh dân tộc dân chủ sở hữu dân tới cách mệnh xã hội chủ nghĩa, là kết quả của sự áp dụng thông minh và tăng trưởng chủ nghĩa Mác Lênin vào điều kiện chi tiết của nước ta; cùng lúc là sự kết tinh tinh hoa dân tộc và trí óc thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh mang ý nghĩa cực kỳ béo béo: trang bị hệ thống ý kiến và cách thức cách mệnh Hồ Chí Minh, tăng lên thêm lòng yêu nước, ý thức dùng cho quần chúng, đạo đức cách mệnh cả mỗi người, để khiến cho chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thực thụ biến thành nền móng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của chúng ta.

2. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh:

2.1. Việc học tập, mày mò tư tưởng Hồ Chí Minh giúp người học tiếp cận, thông suốt hơn về con người lớn lao Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 2/9/1969) là 1 nhà cách mệnh, 1 trong những người đặt nền tảng và chỉ đạo công cuộc chiến đấu giành độc lập, kiêm toàn cương vực cho Việt Nam. Người là nhà chỉ đạo lừng danh được nhiều người hâm mộ và tôn sùng, 1 vị nguyên thủ tài 3 nhưng mà gần cận, được hàng triệu đồng bào Việt Nam yêu quý. Hồ Chí Minh cùng lúc cũng là 1 nhà văn hóa béo với nhiều tác phẩm văn chương nghệ thuật trị giá để lại cho đời. Có thể nói, có rất nhiều nhân tố để hình thành 1 con người lớn lao với những thành tích xuất chúng và dành được trái tim, tình cảm của nhiều đồng bào trong nước nói riêng và quần chúng toàn cầu khái quát. Song 1 nhân tố quan trọng cốt lõi và căn bản ấy chính là nội lực tự thân bên trong Hồ Chí Minh – là toàn thể tư tưởng, ý kiến, nhận thức cũng như nhân phẩm đạo đức của Người. Vì thế, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và thông suốt hơn những nhân phẩm, quan niệm thâm thúy của Người, cũng là qua ấy tìm ra cho mình 1 tấm gương sáng để noi theo và những bài học có lợi để áp dụng trong cuộc sống. Đối với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – cá tính – lối sống là luôn hợp nhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người ko chỉ cho ta cái nhìn giản đơn về những quan niệm của Người trong các lĩnh vực, nhưng mà mặt khác còn cho ta cảm thu được nhân phẩm, đạo đức cao đẹp của Người. Hồ Chí Minh là con người “bằng xương bằng thịt” nhưng mà Người làm được những việc phi thường, béo béo chẳng phải bất kỳ 1 người nào cũng làm được. Hồ Chí Minh cùng thành tích của Người chính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những người nào am tường thâm thúy về những tư tưởng của Người có thể học tập, tuân theo. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là 1 trong những tuyến đường để nhận thức đầy đủ và thâm thúy hơn về công huân béo béo của Người đối với quần chúng, non sông Việt Nam và quần chúng của các nước thực dân địa trên toàn cầu. Thấm thía công huân của Người cũng sẽ khêu gợi trong mỗi 1 người dân Việt Nam lòng hàm ân, lòng kiêu hãnh dân tộc, trình bày được nét đẹp truyền thống của dân tộc – đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

 2.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp mỗi người tăng lên năng lực tư duy lý luận và cách thức công việc trong thời đại hiện nay.

Những tư tưởng của Hồ Chí Minh dù rằng có tính nói chung cao về các lĩnh vực có nội hàm bao la như dân tộc và cách mệnh dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản, Nhà nước, tư tưởng đại kết đoàn, quân sự, nhân bản, đạo đức, văn hóa… nhưng mà lại có tính thực tế và vận dụng rất cao, có thể được áp dụng hiệu quả trong từng công tác bé lẻ của mỗi người dân. Thấm nhuần được các tư tưởng chủ công, ta sẽ có nền móng kiên cố về mục tiêu lao động, tiêu chí đúng mực để tăng trưởng non sông đi lên xã hội chủ nghĩa và có bản sắc riêng. Từ ấy ta sẽ tìm ra đường hướng chi tiết để tăng trưởng năng lực của bản thân, xây dựng non sông. Trên nền móng kiên trì lập trường, vững vàng ý kiến đó, việc nắm rõ được thực chất của các tư tưởng Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho mỗi người tăng lên được bản lĩnh tư duy lý luận sắc bén và cải tiến cách thức lao động hiệu quả và khoa học hơn. Thay đổi được tư duy nhận thức đúng mực cũng chính là loại trừ, bài trừ những nghĩ suy sai lệch, thụ động, phiến diện, phản động, hướng con người tới những tư tưởng đúng mực, thích hợp với quy luật tăng trưởng. Nếu đổi mới tư duy có vai trò dẫn dắt khởi nguồn cho sự tân tiến thì cải tiển cách thức cũng quan trọng ko kém trong việc hiện thực hóa những dự kiến, ý kiến đổi mới ấy.

2.3. Giáo dục đạo đức, nhân cách, nhân phẩm cách mệnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu 1 tấm kiểu mẫu mực về thực hành đạo đức cách mệnh để toàn Đảng, toàn dân noi theo. Thống kê trong di sản Hồ Chí Minh để lại có đến gần 50 bài và tác phẩm bàn về vấn đề đạo đức. Có thể nói, đạo đức là 1 trong những vấn đề ân cần bậc nhất của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cách mệnh. 
Hồ Chí Minh quan niệm đạo đức là nền móng và là sức mạnh của người cách mệnh, coi ấy là cái gốc của cây, đầu đuôi của sông nước: Người cách mệnh phải có đạo đức cách mệnh làm nền móng thì mới xong xuôi được nhiệm vụ cách mệnh vang dội vì sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người quan niệm đạo đức tạo ra công mạnh, yếu tố quyết định sự chiến thắng của mọi công tác Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tạo sự chuyển biến mạnh bạo về tinh thần tu dưỡng, đoàn luyện và tuân theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc trưng trong cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên, đoàn tụ, thanh niên, học trò… tăng lên đạo đức cách mệnh, cần, kiệm, liêm, chính, chí công không lo nghĩ. Trong điều kiện thực tế hiện tại, mặt trái của chế độ thị phần ảnh hưởng mạnh bạo, hình thành sự phân hóa giàu nghèo, phần tầng xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lối sống ở 1 bộ phận cán bộ, Đảng viên đã gây ra tác động ko bé tới niềm tin, tư tưởng và tình cảm của nhân dân quần chúng vào Đảng. Vì thế, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, noi gương đạo đức của Người trở thành thiết yếu, thúc bách và quan trọng hơn bao giờ hết giúp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.

2.4. Tăng lên ý thức độc lập, tự chủ, đổi mới, thông minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người của độc lập, tự chủ, đổi mới và thông minh.

 Luôn luôn xuất hành từ thực tiễn, cực kỳ tránh lặp lại những lối cũ, đường mòn, ko dừng đổi mới và thông minh. Trong xu hướng khu vực hóa và thế giới hóa, các thần thế phản động cừu địch ko từ bỏ mưu mô nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội đối với nước ta phê chuẩn chế độ thị phần và luận bàn, giao lưu văn hóa. Trong điều kiện ấy, chúng ta có thể làm gì để vừa mở cửa, cộng tác tăng trưởng kinh tế nhưng mà vẫn giữ được độc lập, chủ quyền dân tộc. Muốn vậy chúng ta phải tạo ra nguồn sức mạnh nội lực làm cơ sở cho sự tăng trưởng. 1 trong những sức mạnh nội lực ấy chính là tư tưởng Hồ Chí Minh. Người có dặn dò: học tập chủ nghĩa Mác – Lênin là học tập cái ý thức cách mệnh và khoa học, cái ý thức biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, để khắc phục tốt những vấn đề đang đặt ra trong thực tế đổi mới hiện tại, nghĩa là phải luôn biết gắn lý luận với thực tế, từ tổng kết thực tế nhưng mà bổ sung làm phong phú thêm lý luận. Do vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là việc học tập có ý nghĩa về mặt định hướng trị giá, hình thành sức mạnh cùng lúc là kim chỉ nam, là nền móng tư tưởng cho mọi hành động của cả dân tộc.
Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với lứa tuổi thanh niên Việt Nam khái quát và sinh viên ngành Triết học-Chính trị  nói riêng: Trong huấn thị gửi Đại hội Hội Liên hiệp Sinh viên Việt Nam lần thứ II, Người viết: “Thanh niên hiện giờ là 1 lứa tuổi vang dội, thành ra, do vậy phải tự giác, tình nguyện nhưng mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Nghĩa là thanh niên phải có đức, có tài. Có tài nhưng mà ko có đức giả dụ 1 anh làm kinh tế vốn đầu tư rất giỏi nhưng mà lại đi tới biển thủ thì không những ko làm được gì lợi ích cho xã hội nhưng mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức nhưng mà ko có tài giả dụ ông bụt ko làm hại gì nhưng mà cũng ko lợi gì cho nhân loại.” Điều này cho thấy Người luôn ân cần tới thanh niên – những người chủ ngày mai của non sông. Là sinh viên Triết, ko chỉ là những người chủ ngày mai của non sông, nhưng mà còn là lực lượng cốt cán xây dựng nên hệ thống pháp chế giang san, xương sống của tổ quốc, chúng ta cần phải luôn ân cần tăng trưởng và tăng lên chất lượng của mỗi sinh viên ngay từ trong ghế nhà trường.

KẾT LUẬN:

Với những ý nghĩa cực kỳ béo béo như trên, tại Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ VII (tháng 6/ 1991), Đảng đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của mình: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Và từ ấy đến nay, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là ngọn đèn soi sáng cho tuyến đường của chúng ta, là vũ khí lý luận có trị giá khoa học thâm thúy và có ý nghĩa thực tế béo béo; là tư tưởng lãnh đạo, là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân ta, đặc trưng là lứa tuổi trẻ bữa nay và tương lai, nhất là trong công đoạn công nghiệp hoá, tiên tiến hoá non sông. –

Câu 3. Phân tích cơ sở tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh.

Cơ sở khách quan:

Bối cảnh lịch sử tạo nên tư tưởng Hồ Chí Minh:

* Bối cảnh lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX

1858: Thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam, sự xâm lăng của thực dân Pháp đã gây ra nhiều hậu quả cho xã hội Việt Nam
Triều đình nhà Nguyễn đã từng bước khuất phục đầu hàng Pháp.
1884: Hòa ước Pa-to-not , triều đình nhà Nguyễn đã chính thức xác nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn cương vực Việt Nam
Các phong trào vũ trang kháng chiến chống Pháp của quần chúng ta nổ ra, dâng cao, lan rộng trong cả nước và tuần tự bị thất bại.

Đầu thế kỉ XX:

Công cuộc khai thác thực dân địa của Pháp từ 1895 đã khiến cho xã hội Việt Nam có sự lay chuyển và phân hóa ( xã hội phong kiến chuyển sang xã hội thực dân nửa phong kiến, hiện ra nhiều giai cấp phân khúc xã hội mới: người lao động, tư sản, tiểu tư sản. Công cuộc khai thác thực dân địa là sự bóc lột về kinh tế, áp bức về chính trị và nô dịch về văn hóa)
 Tác động của các “tân văn”, “tân thư” và tác động của các trào lưu canh tân ở Nhật Bản, Trung Quốc tràn vào Việt Nam.

=> Khiến cho các phong trào yêu nước ở nước ta chuyển dần sang xu thế dân chủ tư sản.

Tất cả các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đều ko tránh khỏi giảm thiểu, đều ko tránh khỏi sự đàn áp man rợ và thất bại, non sông lâm vào trạng thái khủng hoảng về đường lối cứu nước. Bối cảnh ấy đặt ra 1 đề nghị bức thiết về việc phải tìm ra tuyến đường cứu nước.

* Bối cảnh thời đại:

CNTB chuyển sang công đoạn chủ nghĩa đế quốc và xác lập sự cai trị của chúng trên khuôn khổ toàn cầu, biến thành địch thủ chung của quần chúng các dân tộc thực dân địa, làm cho các phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc diễn ra càng ngày càng mạnh bạo.
Ở các nước tư bản là tranh chấp giữa giai cấp người lao động và giai cấp tư sản. Ở các nước thực dân địa, ngoài tranh chấp vốn có là giai cấp dân cày và đại chủ còn hiện ra tranh chấp mới: giữa quần chúng các thực dân địa và chủ nghĩa đế quốc. Xã hội phân hóa: hiện ra giai cấp, phân khúc xã hội mới: người lao động, tư sản.
Các trào lưu canh tân ở Nhật Bản và Trung Quốc đang diễn ra mạnh bạo.
Cách mệnh Tháng Mười Nga nổ ra và chiến thắng có công dụng thức tỉnh các dân tộc châu Á.
Quốc tế cộng sản 3 có mặt trên thị trường ( tháng 3 – 1919) nói đến đến vấn đề thực dân địa, bênh vực các dân tộc thực dân địa, ủng hộ phong trào chiến đấu giải phóng dân tộc, giúp sức huấn luyện cách mệnh, vạch ra tuyến đường giải phóng các dân tộc thực dân địa.

Bối cảnh trong nước đặt ra đề nghị bức thiết phải tìm ra tuyến đường cứu nước mới, bối cảnh thời đại đã tạo ra tuyến đường nhưng mà Việt Nam đang cần, dĩ nhiên nó chẳng phải hoàn toàn có sẵn.

b. Tiền đề tư tưởng, lý luận:

* Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam:

Các trị giá truyền thống điển hình:

Truyền thống yêu nước điển hình

Truyền thống yêu nước kiên trì quật cường chống giặc ngoại xâm
Truyền thống kết đoàn tương thân tương ái.
Tinh thần nhơn nghĩa
Ý chí vượt qua gieo neo thách thức, ham học hỏi, tiếp nhận tinh hoa văn hóa loài người.

=> Những truyền thống này đã tụ hội và giục giã Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước.

Tác động của văn hóa Phương Tây:

Hồ Chí Minh đã tiếp nhận về tự do, đồng đẳng, nhân ái của tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của đại cách mệnh tư sản Pháp.
Hồ Chí Minh đã tiếp nhận tư tưởng dân chủ phê chuẩn tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp như: Vonte, Rutxo, Mongtetxkio..
Hồ Chí Minh tiếp cận tuyên ngôn độc lập 5 1776 của Mỹ về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Khi ở các nước phương Tây, Hồ Chí Minh ko chỉ tiếp nhận tư tưởng dân chủ nhưng mà còn tạo nên cá tính dân chủ phê chuẩn việc trực tiếp tham dự các tổ chức chính trị xã hội, viết báo, bàn cãi, họp hội, lập hội.

=> Với nền móng văn hóa phương Đông lúc tiếp nhận những trị giá văn hóa phương Tây, Hồ Chí Minh đã bổ khuyết những trị giá tư tưởng nhưng mà ở phương Đông khái quát lúc ở trong nước chưa có hoặc chưa đầy đủ.

Chủ nghĩa Mac Lenin:

Là xuất xứ tư tưởng quan trọng nhất, là cơ sở của toàn cầu quan và cách thức luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhờ có toàn cầu quan và cách thức luận của chủ nghĩa Mác – Lênin Hồ Chí Minh đã hấp thu và chuyển hóa được những yếu tố hăng hái và tân tiến của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa loài người để hình thành hệ thống tư tưởng của mình. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng Mác – Lênin, những phạm trù căn bản của tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong những phạm trù căn bản của lý luận mác – Lênin.
Tháng 7/1920: lúc đọc sơ khảo lần thứ nhất “ Những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thực dân địa” của Lenin, HCM đã tìm thấy tuyến đường giải phóng dân tộc.
HCM tới với chủ nghĩa M-L từ đặc trưng: từ chủ nghĩa yêu nước, từ nhà yêu nước, từ nhu cầu thực tế ( tìm tuyến đường cứu nước chứ chẳng phải là nhu cầu lý luận)
HCM đã tiếp nhận chủ nghĩa M-L ở toàn cầu quan và cách thức luận: ý thức cách mệnh và khoa học.

Nhân tố chủ quan:

Năng lực thiên tính của HCM: HCM có bản lĩnh tư duy trí óc, nhân phẩm đạo đức và năng lực hoạt động thực tế hơn người.
Khả năng tư duy trí óc, quan sát tinh tế, tư duy độc lập, tự chủ, thông minh, bản lĩnh phê phán tinh tường, minh mẫn.
Nhân cách, nhân phẩm đạo đức: tình cảm yêu nước thương dân, mến thương con người.
Nghị lực phi thường của Hồ Chí Minh.
Có hoạt động thực tế phong phú để nói chung tư tưởng thành lý luận.

=> Kết luận: Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự liên kết giữa điều kiện khách quan và yếu tố chủ quan, giữa truyền thống văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa loài người và 1 tư cách đặc trưng được tôi rèn trong thực tế nhộn nhịp của dân tộc và thời đại. Tư tưởng Hồ Chí Minh biến thành tư tưởng Việt Nam tiên tiến.

Câu 4. Trình bày công đoạn tạo nên và tăng trưởng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Quá trình tạo nên và tăng trưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tư tưởng Hồ Chí Minh ko tạo nên ngay 1 khi nhưng mà đã trải qua 1 công đoạn tìm tòi, xác lập, tăng trưởng và hoàn thiện, gắn liền với công đoạn hoạt động cách mệnh phong phú của người.
a. Giai đọan tạo nên tư tưởng yêu nước và chí hướng cách mệnh (từ 1890-1911).

Trong thời trẻ, với những đặc điểm quê hương, gia đình và không gian sống, Hồ Chí Minh đã thu thập được những hiểu biết và nhân phẩm điển hình sau:

Truyền thống yêu nước và nhơn nghĩa của dân tộc.
Vốn văn hóa dân tộc và bước đầu xúc tiếp với văn hóa phương Tây.
Tạo nên hoài bão cứu dân, cứu nước lúc chứng kiến cuộc sống thống khổ, điêu đứng của quần chúng và ý thức chiến đấu quật cường của cha anh.

b. Giai đoạn tìm tòi, khảo nghiệm (1911-1920).

Đây là công đoạn bôn 3 tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã:

Mày mò các cuộc cách mệnh béo trên toàn cầu và thăm dò cuộc sống của quần chúng các dân tộc bị áp bức.
Tiếp xúc với Luận cương của V.I.Lênin về các vấn đề dân tộc và thực dân địa, Hồ Chí Minh đã tìm thấy tuyến đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc.
Đứng hẳn về Quốc tế III, tham dự thành lập Đảng cộng sản Pháp. Sự kiện ấy ghi lại bước chuyển biến về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh, từ chủ nghĩa yêu nước tới chủ nghĩa Lênin, từ tỉnh ngộ dân tộc tới tỉnh ngộ giai cấp, từ người tình nước thành người cộng sản.

Giai đoạn tạo nên căn bản tư tưởng về tuyến đường cách mệnh Việt Nam (1921 – 1930).
Hồ Chí Minh hoạt động hăng hái trong Ban nghiên cứu thực dân địa của Đảng cộng sản Pháp, tham dự sáng lập Hội liên hợp thực dân địa, xuất bản báo Le Paria nhằm tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào các nước thực dân địa.

Hồ Chí Minh sang Mátxcơva dự Hội nghị Quốc tế Dân cày và được bầu vào Đoàn chủ tịch của Hội giữa 5 1923. Sau ấy, Người tiếp diễn tham gia đại hội V Quốc tế Cộng sản và Đại hội các đoàn thể nhân dân khác: Quốc tế thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế công hội đỏ…Hồ Chí Minh về Quảng Châu (Trung Quốc) tổ chức hội Việt Nam cách mệnh thanh niên, ra Báo thanh niên, mở các lớp tập huấn chính trị, huấn luyện cán bộ, đưa họ về nước hoạt động cuối 5 1924.
Tháng 02- 1930, Người chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản trong nước, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và trực tiếp thảo ra các văn kiện: Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, chương trình và Điều lệ vắn tắt của Đảng.
Các văn kiện này, cộng với 2 tác phẩm Người xong xuôi và xuất bản trước ấy là Bản án chế độc thực dân Pháp (1925) và Đường Kách mệnh (1927), đã ghi lại sự tạo nên căn bản tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyến đường cách mệnh của Việt Nam.

Giai đoạn vượt qua thách thức, kiên định tuyến đường đã xác định của cách mệnh Việt Nam (1930-1941).

Do ko nắm được tình hình thực tiễn các thực dân địa ở phương Đông và Việt Nam, lại bị chi phối bởi ý kiến “tả” khuynh, tại Đại hội VI (5 1928), Quốc tế Cộng sản đã chỉ trích và phê phán đường lối của Hồ Chí Minh vạch ra trong Hội nghị thống nhất thành lập Đảng. Hội nghị Trung ương tháng 10 – 1930 của Đảng ta, theo lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, cũng ra “Án nghị quyết” thu hồi chánh cương vắn tắt và sách lược vắn tắt, đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kì ấy Hồ Chí Minh tiếp diễn tham dự các hoạt động trong Quốc tế Cộng sản, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và lãnh đạo cách mệnh Việt Nam, kiên trì ý kiến của mình.
Đại hội VII Quốc tế cộng sản (5 1935) đã có sự tự phê bình về thiên hướng “tả”, cô độc, biệt phái, bỏ rơi mất ngọn cờ dân tộc và dân chủ trong phong trào cộng sản. Để cho các đảng tư sản, tiểu tư sản và phát xít nắm lấy nhưng mà chống phá cách mệnh. Đại hội có sự chuyển hướng về sách lược, chủ trương thành lập Chiến trận dân chủ chống phát xít.
5 1936, Đảng ta đề ra “chiến sách” mới, phê phán những biểu thị “tả” khuynh, cô độc, biệt phái trước đây. Trên thực tiễn, từ đây đảng đã quay về với Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Hồ Chí Minh.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11 – 1939 khẳng định rõ: “đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy lợi quyền dân tộc làm vô thượng, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào cái mục tiêu đó nhưng mà khắc phục”.
Những diễn biến của công đoạn này đã phản ảnh quy luật của cách mệnh Việt Nam, trị giá và nhựa sống của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Giai đoạn tăng trưởng và hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh (1941 – 1969).

Đầu 5 1941, Hồ Chí Minh về nước, trực tiếp lãnh đạo Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5 – 1941), đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc cao hơn hết, tạm bợ gác khẩu hiệu cách mệnh điền địa, xóa bỏ vấn đề Liên bang Đông Dương, lập ra chiến trường Việt Minh, thực tiên tiến kết đoàn dân tộc trên cơ sở công nông liên minh. Nhờ đường lối đúng mực ấy, sau 4 5, Đảng chỉ đạo cách mệnh tháng 8 chiến thắng. Ấy cũng là chiến thắng trước nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Sau lúc giành được chính quyền, Đảng ta và quần chúng ta phải thực hiện 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chiến đấu giải phóng miền Nam.
Đây là giai đoạn tư tưởng Hồ chí Minh được bổ sung, tăng trưởng và hoàn thiện trên 1 loạt vấn đề căn bản của cách mệnh Việt Nam: về đường lối chiến tranh quần chúng “toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính”, về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở 1 nước vốn là thực dân địa nửa phong kiến, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ko trải qua cơ chế tư bản chủ nghĩa, trong điều kiện non sông bị chia cắt và có chiến tranh; về xây dựng Đảng với nhân cách là Đảng cầm quyền; về xây dựng Nhà nước kiểu mới – của dân, do dân, vì dân; về củng cố và tăng nhanh sự kết đoàn đồng tình trong phong trào cộng sản và người lao động quốc tế…
Trước lúc từ trần (ngày 02-9-1969), Hồ Chí Minh để lại Di chúc thiêng liêng gửi gắm trong ấy những tinh hoa của tư tưởng, đạo đức, tâm hồn cao đẹp của 1 vĩ nhân hiếm có, đã suốt đời cố gắng hy sinh vì Non sông và loài người. Di chúc đã tổng kết thâm thúy những bài học chiến đấu và chiến thắng của cách mệnh Việt Nam, cùng lúc cũng vạch ra những định hướng mang tính cương lĩnh cho sự tăng trưởng của non sông và dân tộc ta sau lúc kháng thắng lợi lợi.
Đảng ta và quần chúng ta càng ngày càng nhận thức đầy đủ và thâm thúy hơn di sản ý thức vô giá nhưng mà Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền móng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thực thụ là nguồn trí óc, nguồn động lực soi sáng và xúc tiến công cuộc đổi mới tăng trưởng.
Những bất định chính trị béo béo trên toàn cầu diễn ra trong hơn mười 5 qua vừa kiểm chứng, vừa khẳng định tính khoa học, đúng mực, tính cách mệnh, thông minh, trị giá dân tộc và ý nghĩa quốc tế của tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

{– Xem đầy đủ nội dung tại Xem trực tuyến hoặc Tải về–}

Trên đây là trích dẫn 1 phần Câu hỏi ôn thi môn Tư tưởng Hồ Chí Minh có đáp án – ĐH Tây Nguyên, để xem đầy đủ nội dung đề thi và đáp án cụ thể các em vui lòng đăng nhập website hoc247.net chọn Xem trực tuyến hoặc Tải về di động tính. Chúc các em học tốt và thực hành hiệu quả!

Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia

3287

Đề cương ôn tập môn Triết học Mác Lênin – Phần kinh tế chính trị

3815

Câu hỏi trắc nghiệm ôn tập môn Triết học – Phần Kinh tế chính trị

1784

Giáo trình Những nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác-Lênin

1878

Giáo trình Đường lối cách mệnh của đảng cộng sản Việt Nam

2558

Giáo trình Triết học – PGS.TS. Đoàn Quang Thọ

1350

[rule_2_plain] [rule_3_plain]

#Câu #hỏi #ôn #thi #môn #Tư #tưởng #Hồ #Chí #Minh #có #đáp #án #ĐH #Tây #Nguyên


  • Tổng hợp: Học Điện Tử Cơ Bản
  • #Câu #hỏi #ôn #thi #môn #Tư #tưởng #Hồ #Chí #Minh #có #đáp #án #ĐH #Tây #Nguyên

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button